HƯỚNG NGHIỆP VÀ PHÂN LUỒNG TRONG NỀN GIÁO DỤC MIỀN NAM (1954-1975)

HƯỚNG NGHIỆP VÀ PHÂN LUỒNG TRONG NỀN GIÁO DỤC MIỀN NAM (1954-1975)

Trần Dư Sinh     

(Ban Toán – Khóa Huỳnh Thúc Kháng (1970-1974)-ĐHSP Huế

Cựu giáo viên Trung học Kiểu Mẫu Huế

Cựu học sinh Ban Toán Kỹ thuật Huế 65-70)

Trong những năm gần đây, do các đợt cải cách giáo dục trong 4 thập niên qua đã có không ít trở ngại, khủng hoảng, không có tính kế thừa, thiếu nhất quán, người ta buộc phải nghiên cứu các mô hình giáo dục tiên tiến trên thế giới, trong đó mô hình giáo dục Miền Nam trước năm 1975 đã được bật đèn xanh cho nghiên cứu để rút ra những bài học trong công cuộc cải tổ toàn diện nền giáo dục hiện nay. Vấn đề nghiên cứu Giáo dục miền Nam trước 1975 đã được Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển – Sở Khoa học & Công Nghệ tỉnh Thừa Thiên Huế số (114-115).2014, chuyên đề GIÁO DỤC MIỀN NAM VIỆT NAM (1954- 1975), đã cho đăng loạt bài của nhiều học giả, nhà nghiên cứu giáo dục cả hai miền Nam, Bắc. Việc nghiên cứu này cũng được sự ủng hộ và khuyến khích của Ban Chỉ đạo đổi mới chương trình và sách giáo khoa của Bộ Giáo dục và Đào tạo và giao nhiệm vụ này cho Viện Nghiên cứu Giáo dục thuộc Đại học Sư phạm Tp. HCM thực hiện qua nhóm tác giả PGS. TS. Ngô Minh Oanh (Chủ biên), Hồ Sỹ Anh, Nguyễn Ngọc Tài và Nguyễn Thị Phú, đã xuất bản cuốn sách GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MIỀN NAM 1954-1975 – NXB Tổng hợp TP. HCM năm 2018.

Nhóm tác giả cuốn sách trên đã đúc kết: “Giáo dục miền Nam sớm xác định được triết lý và mục tiêu giáo dục rõ ràng, phù hợp với xu thế của thế giới, nhờ vậy, các chương trình Tiểu học và Trung học được biên soạn theo một định hướng và triết lý chung của nền giáo dục. Giáo dục miền Nam đã đa dạng hóa các loại hình trường. lớp từ cấp tiểu học đến đại học, không chỉ đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng và đa dạng của người dân, mà còn đào tạo ra một lớp người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, có ý thức trách nhiệm.”

Triết lý giáo dục miền Nam (1954-1975) nằm trong những Nguyên tắc Căn bản do Bộ Giáo Dục VNCH ấn hành năm 1959 và sau đó được ghi lại trong hiến pháp 1967. Những nguyên tắc căn bản này được tóm lược như sau:

– Thứ nhất: Giáo dục Việt Nam là giáo dục nhân bản (humanistic education). Nhân là người hay con người, bản là gốc là căn bản. Trong lãnh vực triết lý, thuyết nhân bản chủ trương con người có địa vị quan trọng trong đời sống trên thế gian này. Thuyết nhân bản lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản chớ không nhắm đến linh hồn hay một cuộc đời nào khác ngoài thế giới mà loài người hiện đang sống trong đó. Triết lý nhân bản chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân nhưng không chấp nhận dùng sự khác biệt đó để đánh giá con người, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc… Với triết lý nhân bản, con người có giá trị của con người như nhau, và mọi người đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.

– Thứ hai: Giáo dục Việt Nam là giáo dục dân tộc (nationalistic education). Giáo dục tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh anh hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân tộc Việt Nam có mặt trên thế giới này từ bao nhiêu ngàn năm trước. Dân tộc đó có tiếng nói riêng, có lịch sử riêng, có một nền văn hóa riêng của nó từ bao đời. Dân tộc tính đó trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị tan biến hay tiêu trầm trong những nền văn hóa khác.

– Thứ ba: Giáo dục Việt Nam là giáo dục khai phóng. Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng kín cửa. Ngược lại, giáo dục phải mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia, xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.

Từ những nguyên tắc căn bản trên đây, quan niệm về giáo dục của VNCH  bao gồm những tư tưởng nền tảng sau đây liên hệ tới những mục tiêu chính của giáo dục:

– Phát triển toàn diện mỗi cá nhân. Trong tinh thần tôn trọng nhân cách và giá trị của cá nhân học sinh, giáo dục hướng vào việc phát triển toàn diện mỗi cá nhân theo bản tính tự nhiên của mỗi người và theo những định luật phát triển tự nhiên về vật lý và tâm lý. Nhân cách và khả năng riêng của mỗi cá nhân học sinh phải được lưu ý đúng mức. Cung ứng cho học sinh đầy đủ tin tức, dữ kiện, để học sinh phán đoán, lựa chọn, không che dấu tin tức hay chỉ cung cấp những tin tức chọn lọc thiếu trung thực để nhồi sọ học sinh theo một chủ trương, một hướng đi định sẵn nào.

– Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh bằng cách: giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường sinh sống, và lối sống của người dân; giúp học sinh hiểu biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở mình, ca ngợi tinh thần đoàn kết, tranh đấu của người dân trong việc chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc, yêu thương giúp đỡ nhau trong tình đồng bào; giúp học sinh học tiếng Việt và xử dụng tiếng Việt một cách có hiệu quả; giúp học sinh nhận biết cái đẹp của quê hương xứ sở, những tài nguyên phong phú của quốc gia, những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc; giúp học sinh bảo tồn những truyền thống tốt đẹp, những phong tục giá trị của quốc gia; giúp học sinh có tinh thần tự tin, tự lực, và tự lập.

– Phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học bằng cách: giúp học sinh tổ chức những nhóm tự trị với sự phát triển tinh thần cộng đồng và ý thức tập thể; giúp phát triển sự phán đoán với tinh thần trách nhiệm và kỷ luật; giúp phát triển tính tò mò và tinh thần khoa học; giúp đón nhận những giá trị văn hóa rộng rãi.

– Tóm lại, mục đích của giáo dục quốc gia là giúp mỗi cá nhân phát triển toàn diện để trở thành những người có kỹ năng thực tiễn, có khả năng tư duy, để làm việc, sinh sống, có đạo đức, có tình người, để gây dựng hạnh phúc gia đình và hội nhập vào xã hội góp phần vào việc bảo vệ và phát triển quốc gia. Người được đi học sẽ trở thành người tốt và có ích cho chính mình, cho gia đình, và cho quốc gia dân tộc. Giáo dục VNCH không phân biệt giàu nghèo, không phân biệt giai cấp xã hội, không phân biệt tôn giáo, địa phương, chủng tộc. Giáo dục VNCH cố tạo những cơ hội đồng đều cho mọi người được đi học tuy nhiên không phải ai cũng có thể học được đến hết bậc đại học, hay ai cũng học đến bác sĩ, kỷ sư hoặc các ngành cao đẳng chuyên nghiệp khác. Tùy theo hoàn cảnh, tùy theo khả năng và sở thích, có người chỉ học được hết Tiểu Học, có người học hết Trung Học Đệ Nhất Cấp, hay Trung Học Đệ Nhị Cấp, có những người khác thì học đến hết bậc đại học. Nhưng dù bất cứ học đến bậc học nào, mục đích của giáo dục vẫn phải là giúp tất cả mọi người trở thành người tốt, người đã được phát triển về khả năng cũng như đạo đức, dù khả năng đó ở mức độ nào. Nếu có những người chỉ có cơ hội học hết Tiểu học thôi, thì giáo dục vẫn có bổn phận giúp họ phát triển đến hết mức đó, và vẫn làm thế nào giúp họ trở thành người tốt với mức học Tiểu học của họ.

Sự khác biệt giữa Giáo dục miền Nam (GDMN) và Giáo dục miền Bắc (GDMB) đã được tác giả Vương Trí Nhàn – một nhà nghiên cứu văn hóavăn học và là nhà phê bình văn học của Việt Nam, một người được đào tạo trong nền GDMB – khi nghiên cứu GDMN đã có những cảm nhận khá khách quan sau đây:

– GDMN sớm xác định rõ ràng Triết lý Giáo dục, trong khi đó GDMB mơ hồ về Triết lý Giáo dục. GDMB không phủ nhận tính nhân bản, tuy là trong thực tế người ta rất ngại nói tới, do xã hội ở đây đã xem đấu tranh giai cấp là động lực phát triển; về tính dân tộc, trong cách giải thích của người làm giáo dục Hà Nội, tính dân tộc trước tiên là việc dân mình tự làm lấy giáo dục của mình, trong trường hợp này, dân tộc đồng nghĩa với “ta về ta tắm ao ta”, từ chối những đổi mới hiện đại; về tính Khai phóng, đây là khái niệm hoàn toàn xa lạ với GDMB, nói dân tộc là để từ chối khai phóng, còn với GDMN, chính là cần khai phóng thì mới giải quyết vấn đề dân tộc một cách triệt để. Hẳn là không xa sự thật lắm nếu kết luận trong khi giáo dục thế giới và GDMN là khai phóng thì GDMB là khép kín. Trong khi GDMB chỉ hướng tới các mục đích trước mắt – một tinh thần thiển cận sát mặt đất, thì tinh thần khai phóng mà GDMN muốn xây dựng bao giờ cũng giúp cho người ta hướng tới tương lai.

– Về bộ máy giáo dục: Nền giáo dục trước 1945 và GDMN trước 1975: bản thân giáo dục là một hệ thống quyền lực, nó có nguyên tắc tổ chức riêng và những con người riêng của nó, các chức danh đốc học, giáo thụ, huấn đạo – các học quan tương ứng với tỉnh, phủ, huyện — là người do triều đình hoặc chính phủ cử, chứ không phải do chính quyền địa phương cử, hoặc nếu địa phương cử thì triều đình/chính phủ cũng phải duyệt. Điều này được GDMN tiếp tục: Nền GDMN do những người thành thạo chuyên môn quyết định. Còn ở miền Bắc  thì hoàn toàn ngược lại, người phụ trách giáo dục các cấp hoàn toàn do Ủy ban cử sang, cả những hiệu trưởng cũng vậy, phải do Ủy ban thông qua. Bộ máy tổ chức cán bộ địa phương thường hoạt động theo nguyên tắc là ai tài giỏi cho đi phụ trách các ngành chính trị kinh tế. Còn văn hóa giáo dục sẽ phân công cho những người kém thế lực và kém năng lực. Đánh đấm ở chiến trường hay vật lộn với sản xuất với thị trường mới khó, chứ việc quản mấy ông thầy với đám học trò ranh, ai làm chẳng được – người ta hiểu vậy!

– Tóm lại, Nếu GDMN tiếp nối cái mạch giáo dục của nhiều nước trên thế giới và trực tiếp là nền giáo dục VN trước 1945 thì GDMB, xét theo cả chặng đường dài năm sáu chục năm, trong khi cố tìm cốt cách riêng của mình, hóa ra lại chẳng tuân theo quy luật  nào cả. Nếu GDMN được triển khai theo một đường hướng khoa học của thế giới hiện đại thì GDMB lại có những khía cạnh như trở lại thời tiền hiện đại.

(Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc           – Vương Trí NhànTạp chí NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN số 7-8 (114-115).2014,
số chuyên đề GIÁO DỤC MIỀN NAM VIỆT NAM (1954- 1975) – trích).

Chính GDMN bản thân nó là một hệ thống quyền lực, do những người thành thạo chuyên môn quyết định, có triết lý giáo dục xuyên suốt, biết kế thừa những tinh hoa của nền giáo dục của cha ông, tiếp thu nền giáo dục thuộc địa của Pháp để Việt hóa cho phù hợp với Việt Nam từ năm 1945, thời chính phủ Trần Trọng Kim với Chương trình Hoàng Xuân Hãn, cho đến việc hoàn thiện nền GDMN 1954-1975 qua việc nghiên cứu và tiếp thu và áp dụng những thành tựu của nền giáo dục quốc tế, hiện đại. Không đao to búa lớn với khẩu hiệu “Cải cách Giáo dục”, GDMN tuần tự cải tổ một cách nhẹ nhàng thích nghi với giáo dục thế giới khi chuyển dần sang mô hình giáo dục tiên tiến, thực tiễn gần với cuộc sống của Hoa kỳ, nhưng phù hợp hoàn cảnh dân tộc khi nhận thấy nền giáo dục theo định hướng của Pháp đã mang nặng tính từ chương, không còn thích ứng. Việc thay đổi chương trình cũng làm rất bài bản, có nghiên cứu một cách khoa học, kỹ lưỡng, đưa vào kiểm nghiệm ở hệ thống Trường Trung học Kiểu Mẫu để rút kinh nghiệm và sau đó đưa ra áp dụng đại trà, ví dụ đưa tân toán học vào thử nghiệm ở các Trường Kiểu Mẫu từ những năm 1964, 1965 sau đó áp dụng rộng rãi ở chương trình Toán ở các trường Trung học từ năm 1969; đưa hình thức thi trắc nghiệm ở chương trình Kiểu Mẫu, sau đó áp dụng đại trà ở kỳ thi Tú tài năm 1974; từ chương trình Giáo dục Tổng hợp đã áp dụng tại các Trường Kiểu Mẫu mở rộng dần với gần 100 Trưởng Trung học Tổng Hợp hầu hết các tỉnh;… Nhờ có sự nghiên cứu bài bản, khoa học do những nhà giáo dục có tầm, có uy tín của Bộ Giáo dục, nên những sự thay đổi, cải tiến nền GDMN ít có sai sót và được xã hội đồng thuận cao, không có những phản ứng tiêu cực, ai muốn phê phán về giáo dục cũng được theo kiểu “đẽo cày giữa đường” như những lần cải cách giáo dục, phân ban, thay đổi cách thi bằng trắc nghiệm,…  trong gần 4 thập niên vừa qua.

Một nét đặc trưng chủ đạo khác của GDMN đó là tính đa dạng các loại hình trường lớp và tính hướng nghiệp, phân luồng trong giáo dục thể hiện rõ nét một cách tự nhiên qua chính sách kích cầu, mà không cần phải kêu gọi, vận động mà vẫn không hiệu quả như mong muốn của nền giáo dục hiện nay. Chúng tôi muốn phân tích sâu vấn đề này qua các mô hình giáo dục của GDMN sau đây:

TRƯỜNG TIỂU HỌC CỘNG ĐỒNG

Ngay từ bậc Tiểu học, đã có mô hình hướng nghiệp cho học sinh qua chương trình Giáo dục cộng đồng. Có nhiều cách định nghĩa về trường tiểu học cộng đồng, có thể tham khảo định nghĩa của Ủy ban UNESCO tại Việt Nam lúc đó như sau: “Trường cộng đồng khác với trường phổ thông ở hai phương diện: hoạt động bên trong và hoạt động bên ngoài. Trường phổ thông theo đuổi một chương trình khoa cử thụ động. Còn trường tiểu học cộng đồng thực hiện một chương trình linh động có tính cách địa phương qua các chủ điểm giáo dục, vừa cá tính hóa, vừa xã hội hóa nền học cùng một lúc”.

Thời kỳ từ năm 1955 đến 1958 là thời kỳ đầu của trường  tiểu học cộng đồng ở miền Nam. Một số ngôi trường được xây dựng, chủ yếu là ở nông thôn, trang bị nhiều thiết bị thực hành cần thiết như: máy khâu, máy may, máy dệt vải,… do Quỹ viện trợ Hoa Kỳ đài thọ. Mục đích của trường là hướng nghiệp cho HS về các ngành trồng trọt, chăn nuôi, thủ công nghiệp (may mặc, giày dép,…).

Chương trình học, chủ yếu là các môn học như chương trình tiểu học phổ thông, nhưng thêm các bộ môn gắn liền với các thực tế địa phương. Từ năm 1958 đến năm 1962, Bộ Quốc gia Giáo dục tiếp tục quá trình cải tiến trường tiểu học phổ thông thành trường tiểu học cộng đồng, đồng thời đào tạo giáo viên cộng đồng tại Trung tâm Giáo dục Căn bản tại Long An.

Trong giai đoạn từ 1962 – 1965, hệ thống trường cộng đồng tiếp tục phát triển, đường lối giáo dục cộng đồng được triển khai rộng hơn. Đến năm 1967, Bộ Quốc gia Giáo dục đã cộng đồng hóa được 900 trường tiểu học và đến năm 1969, triển khai cộng đồng hóa các trường tiểu học trên toàn quốc bằng Nghị định số 2463-GD/PC/NĐ ngày 25-11-1969.

Giáo dục Cộng đồng gồm 2 mục tiêu chính và cụ thể như sau:

Giáo dục trẻ em: Dạy cho trẻ hiểu biết chữ nghĩa, mở rộng kiến thức, đào tạo những trẻ em chậm tiến trở thành một người nhanh nhẹn, vững vàng và tự tin trong học tập.

Giáo dục dân chúng: Giúp họ hiểu biết những khái niệm về y tế, kinh tế, văn hóa,… để họ có những tiến bộ trong cuộc sống của bản thân và gia đình, thoát khỏi tình trạng thiếu hiểu biết, nguyên nhân làm cho xã hội nông thôn bị lạc hậu, trì trệ.

 

TRƯỜNG TRUNG HỌC KỸ THUẬT

Đây là một mô hình giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề, giúp phân luồng bắt đầu từ lớp 8 trung học. Những học sinh nghèo, hoặc ở nông thôn, không có điều kiện tiếp tục học lên trung học có thể được phân luồng vào học tại các trường Trung học Kỹ thuật. Học sinh kỹ thuật được hưởng học bổng toàn phần hoặc bán phần tùy theo năng lực học tập, giúp học sinh vượt qua khó khăn để học tập; ngoài ra có nhiều công ty như Shell đã tài trợ nhiều học bổng cho học sinh nghèo, học giỏi. Đây là chính sách kích cầu, thu hút một bộ phận học sinh theo học, nhằm mục tiêu phân luồng trong nền GDMN.

Chương trình kỹ thuật gồm hai hệ: hệ Chuyên nghiệp và hệ Kỹ thuật Toán. Học sinh được tuyển vào từ lớp 8 để có thể phù hợp độ tuổi thực hành các môn học nghề nghiệp.

Học sinh chuyên nghiệp được học nghề từ lớp 8 bên cạnh học văn hóa phổ thông tinh gọn, đến lớp 10 chuyên nghiệp đã có thể ra hành nghề, hoặc học tiếp lên các trường Cán sự kỹ thuật tại Học viện Bách khoa Thủ Đức, những HS này thường giỏi về kỹ thuật và có thể ra đời kiếm sống bằng nghề hoặc gia nhập quân đội ở các đơn vị kỹ thuật, hoặc học tiếp Trường Sư phạm Kỹ thuật để trở thành giáo viên dạy nghề tại các trường Trung học Kỹ thuật, …

Học sinh ban Kỹ thuật Toán: sẽ học chương trình văn hóa theo ban B (ban Khoa học Toán) cộng với các môn kỹ thuật mang tính hướng nghiệp. HS học cả ngày, vừa học văn hóa vừa học kỹ thuật, trong đó một tuần phải học ở xưởng 8 giờ. Học sinh lớp 8 và 9 mỗi tuần học ở xưởng 8 giờ luân phiên với các nghề mộc, gò hàn, nguội, mỗi nghề học lý thuyết và thực hành 3 tháng. Học sinh Trung học đệ nhị cấp chọn học một nghề cho suốt 3 năm học: Điện; Cơ khí ô tô, máy nỗ; Tiện. Đặc biệt, môn Toán có nặng hơn ban B phổ thông (lớp 12 học 9 giờ toán/tuần và học chương trình tân toán học sớm hơn chương trình ban B). Một môn học đặc thù khác là môn Kỹ nghệ họa (vẽ kỹ thuật) được học rất sâu, mỗi tuần học 5 giờ (trọn một buổi để vừa học lý thuyết vừa thực hành vẽ bài thực hành cơ cấu máy móc). HS học hệ này, cuối năm 11 có 50% HS được miễn thi Tú tài I Kỹ thuật Toán (50% còn lại phải thi), cuối năm lớp 12 thi Tú tài II Kỹ thuật Toán và được ưu tiên thi vào ngành Kỹ sư Công nghệ thuộc Trường Kỹ sư Phú Thọ (ngành nầy có thi môn Kỹ nghệ họa). Học xong Tú tài Kỹ thuật Toán, học sinh hiểu biết khá thành thạo một nghề và những kỹ năng về mộc, gò hàn, nguội để có thể áp dụng vào cuộc sống hàng ngày. Môn Kỹ nghệ họa cũng đã giúp không ít học sinh không học lên đại học có thể có cơ hội việc làm tốt. Người viết bài này xuất thân là học sinh ban Kỹ thuật Toán, mặc dù đã vào Saigon học luyện thi, chuẩn bị thi vào kỹ sư công nghệ, nhưng do điều kiện gia đình phải trở về Huế để thi vào ĐHSP Huế, ban Toán. Đang học năm thứ 3, khi đó quý thầy ở trường Kỹ Thuật Huế phải đi huấn luyện quân sự ở Phú Bài, không có giáo viên dạy môn Kỹ nghệ họa, nhà trường đã mời tôi về dạy môn này cho các lớp 11 Toán, dạy cũng đúng bài bản như hồi còn đi học.

Loại hình trường trung học kỹ thuật đã có mặt hầu hết ở các tỉnh, thành phố ở miền Nam. Công lập có các trường như: Trung học Kỹ thuật Cao Thắng (thành lập năm 1956; tiền thân là Trường Cơ khí Á Châu thành lập năm 1906 ở Sài Gòn, hiện nay là Trường Cao Đẳng Kỹ Thuật Cao Thắng), Trường Trung học Kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ, Trường Trung học Kỹ thuật Huế (tiền thân là trường Bá Công thành lập năm 1899 theo chỉ dụ của Vua Thành Thái, nay là Trường Cao đẳng Công Nghiệp Huế), Trường Kỹ thuật Đà Nẵng v.v.

Tư thục có các trường như: Trường Trung học Kỹ thuật Don Bosco, do các tu sĩ Dòng Don Bosco thành lập năm 1956 ở Gia Định (nay là Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh).

TRƯỜNG TRUNG HỌC NÔNG LÂM SÚC

Mục đích:

– Đào tạo nông dân có trình độ kỹ thuật tiến bộ

– Đào tạo chuyên viên phục vụ  nông nghiệp

– Huấn luyện phụ nữ nông thôn thích nghi với đời sống và sinh hoạt tiến bộ của gia đình xã hội nông thôn

– Mở những lớp dạy nghề cho thanh thiếu nhi nông thôn, nông dân nâng cao trình độ nghề nghiệp và kiến thức nông thôn

– Sửa soạn cho  học sinh lên lớp chuyên viên trung đẳng cấp 1 – cấp 2, kỹ sư và cao đẳng sư phạm NLS.

Có 17 trường Trung Học Nông lâm Súc Đệ I Cấp tuyển từ lớp 8 NLS tại: Quảng Nam,Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa, Đà Lạt, Bình Thuận, Pleiku, An Mỹ, Phước Tuy, An giang, Bạc Liêu, Cái Bè, Hà Tiên, Kiến Phong, Kiến Bình, Sa Đéc, Vĩnh Bình. Mục đích:  Chuẩn bị cho học sinh học lên bậc Đệ 2 Cấp; Chuẩn bị cho học sinh lên học lớp chuyên viên trung đẳng cấp 1 NLS (hs không đủ điều kiện theo học Đệ 2 Cấp và muốn hoạt động ở cộng đồng nông thôn).

Có tất cả 10 trường trung học Nông Lâm Súc Đệ 2 Cấp tại: Huế, Bảo Lộc, Ninh Thuận,  Bình Dương, Tây Ninh, Bình Tuy, Cần Thơ, Định Tường, Long An, Ba Xuyên. Mục đích: Thâu nhận học sinh các trường Đệ nhất cấp; Đào luyện học sinh có khả năng để tiếp tục lên bậc Cao Đẳng và Đại học; Chuẩn bị cho học sinh lên lớp chuyên viên trung đẳng cấp 2 để trở thành nông dân tiến bộ hoặc hoạt động trong mọi lãnh vực sản xuất kỹ nghệ, thương mãi, tín dụng, biến chế, khảo cứu liên hệ đến nông nghiệp.

Học sinh trung học Nông Lâm Súc Đệ 2 Cấp bắt đầu chọn ban theo sở thích,các ban gồm có:

  • Canh Nông: Chương Trình nặng về phần canh tác
  • Mục Súc: Chương trình nặng về phần Chăn nuôi thú y
  • Thủy Lâm: Chương trình nặng về phần khai thác rừng

– Công thôn: Chương trình nặng về phần máy móc dụng cụ dung trong nông trại.

Ở các trường Trung học NLS đệ nhị cấp ngoài các lớp 8 -12 NLS còn có những lớp: Chuyên Viên Trung đẳng cấp 1, Chuyên Viên Trung đẳng cấp 2. Các lớp này có mục đích: Huấn luyện cho hs không đủ điều kiện lên học bậc Trung học Đệ nhị cấp hay Cao Đẳng; Đào tạo chuyên viên có đầy đủ khả năng chuyên môn về Nông nghiệp để phục vụ mọi lĩnh vực sản xuất, thương mại.kỹ nghệ, tín dụng nông nghiệp.

Các lớp chuyên viên trung đẳng cấp 1 & 2 có những lớp sau : Ngư Nghiệp – Nông Cơ – Nuôi Heo – Nuôi Gia Cầm – Kinh Tế Nông Thôn – Túc Mễ – Cây Ăn Trái – Thủy Lâm.

TRƯỜNG TRUNG HỌC KIỂU MẪU VÀ CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC TỔNG HỢP

Kể từ bộ “Học chánh Tổng Qui” ban hành ngày 21/12/1917 (Phạm Quỳnh, “Cái vấn đề giáo dục ở nước Nam ta ngày nay”, Nam Phong tạp chí số 12 tháng 6/1918, tr. 323-324) ấn định nền giáo dục của Việt Nam, đến việc Việt hóa nền giáo dục của Việt Nam để mọi môn học được giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Việt của chương trình Hoàng Xuân Hãn năm 1945, chương trình giáo dục ở Việt Nam vẫn hoàn toàn ảnh hưởng từ chương trình giáo dục của Pháp. Chương trình này có một số khuyết điểm như chỉ dành cho thành phần ưu tú, từ chương, chuẩn bị cho bậc đại học nhiều hơn là giúp đa số học sinh trong đời sống thực, thiếu thực dụng, nhiều hàng rào cản không cho phép đa số học sinh có cơ hội học lên cao, đồng thời thiếu chuẩn bị cho nhiều ngành nghề khác nhau, như vậy là phí phạm nhân tài và khả năng. Đã có nhiều đề nghị và thực hiện cải tổ giáo dục, nhưng cho đến 1965 GDMN chưa có một công cuộc cải tổ giáo dục trung học toàn diện. Đến năm 1964, chương trình trung học tổng hợp đầu tiên – với đầy đủ các môn hướng nghiệp – bắt đầu được đem kiểm nghiệm và áp dụng cho GDMN với ảnh hưởng của comprehensive high school của Mỹ tại trường Trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức trực thuộc Đại học Sư phạm Sàigòn và trường Trung học Kiểu Mẫu Huế trực thuộc ĐHSP Huế.

Hệ thống Trường Trung học Kiểu Mẫu toàn miền Nam gồm: Huế – khai giảng khóa đầu tiên năm học 1964-1965; Thủ Đức – khai giảng khóa đầu tiên năm học 1965-1966 và Cần Thơ – khai giảng khóa đầu tiên năm học 1968-1969. Trường Trung học Kiểu Mẫu trực thuộc Đại học Sư phạm, không do Ty/Sở Giáo dục quản lý như tất cả trường công lập, bán công và tư thục trên địa bàn. Tuy nhiên, trường Trung học Kiểu Mẫu vẫn giữ quyền tự trị nhất định: có ban giám hiệu độc lập và đội ngũ nhà giáo riêng đạt trình độ chuyên môn xuất sắc được tuyển chọn từ đội ngũ giáo viên giỏi hoặc sinh viên ra trường đỗ thủ khoa.

Trường Trung học Kiểu Mẫu thực hiện hai nhiệm vụ: Thứ nhất, Nghiên cứu và thực nghiệm các mô hình giáo dục tiên tiến để rút kinh nghiệm áp dụng đại trà; Thứ hai, là một trường quan sát và thực hành sư phạm cho các sinh viên trường Đại học Sư phạm.

Trường Trung học Kiểu Mẫu thực hiện Chương trình giáo dục tổng hợp bao gồm:

Chương trình phổ thông sẽ gồm hầu hết các môn học trong chương trình Trung học Việt Nam thời điểm đó với nội dung và số tiết dành riêng cho các môn học sửa đổi sao cho hợp lý hơn. Ngoài ra, như trên đã nói, trường Trung học Kiểu Mẫu là một trung tâm nghiên cứu và kiểm nghiệm giáo dục bậc Trung học, áp dụng những mô hình giáo dục tiên tiến, những thành tựu mới của Khoa học Giáo dục, nên đã thể nghiệm các điểm mới so với chương trình phổ thông bình thường như: Đưa tân toán học với lý thuyết tập hợp đầu tiên vào giáo dục Việt Nam; Đưa thêm môn Quốc văn vào chương trình lớp 12 thay vì lớp 12 chỉ học môn Triết học; Áp dụng những thành tựu về kiểm tra đánh giá của ngành đo lường trong giáo dục bằng cách sử dụng thang điểm 5 bậc A, B, C, D, E thay vì thang điểm 20 thời điểm đó. Đưa hình thức kiểm tra đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan vào áp dụng và sau đó được áp dụng đại trà trong kỳ thi Tú tài quốc gia năm 1974; Trường Trung học Kiểu Mẫu được Bộ Giáo dục trao quyền tự chủ rất lớn, nhà trường được quyền tuyển sinh theo cách riêng, thi tốt nghiệp theo cách riêng. Trong khi các trường khác thi Tú tài theo đề thi chung của Bộ, thì nhà trường có đề thi riêng bằng hình thức trắc nghiệm hoàn toàn cho học sinh của mình, do thầy cô của trường mình ra đề, mà bằng cấp vẫn được công nhận là bằng quốc gia. Nhờ thế, người dạy có thể thỏa sức thực hiện ý đồ giáo dục của mình trong khuôn khổ cho phép, không sợ vì thế mà học sinh mình bị hỏng thi! Ngoài ra, còn có chương trình học khóa (riêng cho các môn học) để chuẩn bị cho những học sinh có đủ khả năng sau này theo đuổi các ngành Đại học trong và ngoài nước.

Chương trình hướng dẫn: Áp dụng những kỹ thuật tân tiến về khoa học hướng học và hướng nghiệp, nhà trường sẽ cố gắng tìm hiểu những khả năng, sở thích, nhu cầu của học sinh để hướng dẫn các em trong việc học hành, lựa chọn ngành học đúng với khả năng trong hiện tại và nghề nghiệp thích hợp trong tương lai. Đồng thời chương trình giáo dục cũng giúp học sinh giải quyết những vấn đề khó khăn riêng của từng em. Thực hiện yêu cầu này, trường Trung học Kiểu Mẫu thiết lập phòng hướng dẫn khải đạo do các giáo viên phụ trách được đào tạo bài bản về tâm lý học, trắc nghiệm tâm lý, kỹ thuật phỏng vấn,…, để tư vấn về tâm lý, hướng học và hướng nghiệp cho học sinh.

Chương trình hướng nghiệp: Trường Trung học Kiểu Mẫu đã bổ sung các môn học như: Kinh tế gia đình, Công kỹ nghệ và Canh nông, Doanh thương (giáo dục thương mại). Các học xưởng cũng được xây dựng và trang bị đầy đủ các thiết bị, máy móc phục vụ dạy cho học sinh các môn công kỹ nghệ như: nghề may, thêu, nghề in, đánh máy chữ, nghề mộc, cơ khí,… Các môn học nói trên không có mục đích đào tạo học sinh thành những chuyên viên lành nghề mà chỉ tạo cho các em những kiến thức phổ thông cần thiết để có thể tự mình giải quyết những nhu cầu của cuộc sống, đồng thời trau dồi những năng khiếu sẵn có hầu chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai.

Chương trình Giáo dục Tổng hợp ban đầu áp dụng tại các trường Trung học Kiểu Mẫu do GS. TS. Dương Thiệu Tống – nhà Giáo dục học lớn của Việt Nam – làm chủ biên khi thầy nhận trọng trách Hiệu trưởng trường Trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức. Mô hình này vào thập niên 80, nền Giáo dục Xô – viết của Liên Xô cũ đã nghiên cứu để áp dụng. Một điều ngạc nhiên thú vị theo lời kể của PGS. TS. Nguyễn Thiện Tống, nguyên Trưởng bộ môn Kỹ thuật Hàng không – Đại học Bách Khoa TP. HCM: “Năm 1982, Liên Xô mời phái đoàn trí thức do Âu Mỹ đào tạo ở miền Nam qua Nga tham quan nghiệp vụ. Trong phái đoàn 5 người ấy có GS Dương Thiệu Tống. Một hôm, chuyên gia Liên Xô trình bày một chương trình Trung học Kỹ thuật kiểu mẫu rất hiện đại. Nhưng, bất ngờ GS Dương Thiệu Tống cho biết chương trình ấy là do chính ông thiết lập cho giáo dục quốc tế từ lâu tại Hoa Kỳ và đã thực hiện tốt đẹp tại Việt Nam trong 10 năm ở trường Kiểu mẫu Thủ Đức, Huế, Cần Thơ, nhưng tiếc thay bị ngưng lại sau năm 1975” (Thanh Niên Online, năm 2008).

Từ việc kiểm nghiệm và hoàn thiện ở các trường Trung học Kiểu Mẫu, năm 1971 chương trình Trung học tổng hợp bậc đệ nhất cấp được Bộ Giáo dục ban hành để áp dụng cho cả nước; năm 1972 chương trình Trung học tổng hợp bậc đệ nhị cấp được Bộ Giáo dục ban hành để áp dụng cho cả nước. Ban đầu có 12 trường Trung học Tổng hợp dẫn đạo (pilot school), hay còn gọi là trường Trung học Tổng hợp thí điểm. Sau đó  đều được gọi chung là Trường Trung học Tồng hợp (comprehensive secondary school) gồm: trường Nguyễn An Ninh, trường Sương Nguyệt Ánh, trung học Quận Tám, trường Quốc Gia Nghĩa Tử, trường Mạc Đỉnh Chi (Saigon), trường Phan Thanh Giản (Cần Thơ), trường Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho), trường Nguyễn Trung Trực (Rạch Giá), Trường Thoại Ngọc Hầu (Long Xuyên), Trường trung học Kiến Hòa (Bến Tre), trường Trung học Tuy Hòa (Phú Yên), trường Trung học Gia Hội (Huế), trường Trung học Trần Quốc Tuấn (Quảng Ngãi), trường trung học Dĩ An (Biên Hòa), trường trung học Hóc Môn (Gia định),… Dự kiến mở rộng ra nhiều trường trung học khác trên toàn quốc, nhưng đến năm 1975 thì ngưng lại.

 

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỘNG ĐỒNG VÀ VIỆN ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

Trong hai thập niên 1960 và 1970, lúc hội nghị hòa bình đang diễn ra ở Paris, chính phủ VNCH ráo riết lên kế hoạch tái thiết sau chiến tranh, với viễn cảnh là hòa bình sẽ lập lại ở Việt Nam, một chính phủ liên hiệp sẽ được thành lập, người lính từ các bên trở về cần được đào tạo để tái hòa nhập vào xã hội. Trong khuôn khổ kế hoạch đó, có hai mô hình cơ sở giáo dục đại học mới và mang tính thực tiễn được hình thành, đó là trường đại học cộng đồng và viện đại học bách khoa.

Trường đại học cộng đồng là một cơ sở giáo dục đại học sơ cấp và đa ngành; sinh viên học ở đây để chuyển tiếp lên học ở các viện đại học lớn, hoặc mở mang kiến thức, hoặc học nghề để ra làm việc. Các trường đại học cộng đồng được thành lập với sự tham gia đóng góp, xây dựng, và quản trị của địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ở địa phương trong các mặt văn hóa, xã hội, và kinh tế. Khởi điểm của mô hình giáo dục này là một nghiên cứu của ông Đỗ Bá Khê tiến hành vào năm 1969 mà các kết quả sau đó được đưa vào một luận án tiến sĩ trình ở Viện Đại học Southern California vào năm 1970 với tựa đề The Community College Concept: A Study of its Relevance to Postwar Reconstruction in Vietnam (Khái niệm trường đại học cộng đồng: Nghiên cứu sự phù hợp của nó với công cuộc tái thiết hậu chiến ở Việt Nam). Cơ sở đầu tiên được hình thành là Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang, thành lập vào năm 1971 ở Định Tường sau khi mô hình giáo dục mới này được mang đi trình bày sâu rộng trong dân chúng; trường này đặt trọng tâm vào nông nghiệp. Các trường đại học cộng đồng khác gồm có: Duyên Hải ở Nha Trang đặt trọng tâm vào ngư nghiệp, Quảng Đà ở Đà Nẵng (1974), và Long Hồ ở Vĩnh Long. Riêng Trường Long Hồ còn đang dang dở chưa hoàn tất thì chính thể VNCH bị giải tán. Ở Sài Gòn thì có Trường Đại học Sơ cấp Kỹ thuật Sài Gòn, tiền thân là Trường Cán sự Kỹ thuật Phú Thọ nay tách ra khỏi khối các trường kỹ sư và hưởng quy chế trường đại học cộng đồng, và Trường Đại học Regina Pacis (khai giảng vào năm 1973) dành riêng cho nữ sinh do Công giáo thành lập, và theo triết lý đại học cộng đồng.

Sau năm 1975, các trường đại học cộng đồng bị giải tán vì bị xem là xa lạ với những lý tưởng giáo dục của chế độ mới, vốn theo khuôn mẫu của Liên Xô. Các trường này còn bị coi là quá gần gũi với Hoa Kỳ.

Nhưng rồi, đầu thập niên 1990, một phái đoàn giáo dục đại học Việt Nam đã được Ủy ban Hoa Kỳ về Hợp tác Khoa học với Việt Nam và Hiệp hội Trường Đại học Cộng đồng Hoa Kỳ mời và tài trợ đến tham quan và tìm hiểu một số trường đại học cộng đồng (ở Việt Nam hiện nay thường gọi là “trường cao đẳng cộng đồng”) ở Wisconsin và Illinois, Hoa Kỳ, và tỉnh British Columbia, Canada. Năm 2000, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam ban hành một quy định tạm thời về quy chế trường cao đẳng cộng đồng, đặt nền tảng pháp lý cho sự ra đời của 9 trường cao đẳng cộng đồng đầu tiên trong khoảng thời gian từ năm 2001 đến 2005. Năm 2009, Hiệp hội Cao đẳng Cộng đồng Việt Nam (Vietnam Association of Community Colleges, viết tắt VACC) được thành lập. VACC hiện có 52 thành viên, bao gồm các trường đại họctrường cao đẳng, trường cao đẳng cộng đồng, trung tâm đào tạo, và những cơ sở khác. Tính đến năm 2012, Việt Nam có 13 trường cao đẳng cộng đồng trong cả nước.

Vào năm 1973, Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức (tên tiếng Anh: Thủ Đức Polytechnic University, gọi tắt là Thủ Đức Poly) được thành lập. Đây là một cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực, và chú trọng đến các ngành thực tiễn. Trong thời gian đầu, Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức có các trường đại học chuyên về Nông nghiệp, Kỹ thuật, Giáo dục, Khoa học và Nhân văn, Kinh tế và Quản trị, và Thiết kế đô thị; ngoài ra còn có trường đào tạo sau đại học. Theo kế hoạch, các cơ sở giáo dục đều được gom chung lại trong một khuôn viên rộng lớn, tạo một môi trường gợi hứng cho trí thức suy luận, với một cảnh trí được thiết kế nhằm nâng cao óc sáng tạo; quản lý hành chính tập trung để tăng hiệu năng và giảm chi phí.

Sau năm 1975, toàn bộ các cơ sở giáo dục đại học thời VNCH bị đổi tên và bị phân tán theo khuôn mẫu giáo dục của Liên Xô nên không còn mô hình theo đó các trường hay phân khoa đại học cấu thành viện đại học, mà mỗi trường trở nên biệt lập. Giáo dục đại học Việt Nam theo mô hình phân tán ngành học. Các “trường đại học bách khoa” được thành lập (Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh, và Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng) không giống như mô hình viện đại học bách khoa vì chỉ tập trung vào các ngành kỹ thuật.

Lời kết: Giáo dục nhân bản là nền giáo dục hướng đến sự phát triển toàn diện của từng cá thể học sinh, phải có sự lựa chọn loại hình trường học, chương trình học phù hợp với năng lực của mỗi học sinh. Không thể chỉ có một loại hình trường phổ thông duy nhất áp dụng một chương trình duy nhất cho tất cả học sinh mọi vùng miền. GDMN đã đa dạng hóa các loại hình trường lớp, các chương trình học tương đối đáp ứng với nhiều đối tượng khác nhau như đã trình bày ở trên. Chính sự đa dạng và có nhiều chính sách kích cầu đã thực hiện được tính hướng nghiệp và phân luồng học sinh mà nhiều nền giáo dục tiên tiến đã áp dụng, không thể để học sinh tốt nghiệp 12 xong cứ lao vào đại học để rồi ra trường đa phần bị thất nghiệp, tạo cho xã hội tình trạng thừa thầy, thiếu thợ lành nghề đáp ứng nhu cầu của xã hội. Những mô hình giáo dục, những kinh nghiệm của GDMN cần được nghiên cứu một cách cầu thị mới có thể làm tốt hơn trong đợt đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo đang chuẩn bị tiến hành.

Huế, tháng 4/2018

 

Tài liệu tham khảo:

  1. Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển – Sở Khoa học & Công Nghệ tỉnh Thừa Thiên Huế số (114-115).2014, chuyên đề GIÁO DỤC MIỀN NAM VIỆT NAM (1954- 1975).
  2. Ngô Minh Oanh (Chủ biên), Hồ Sỹ Anh, Nguyễn Ngọc Tài và Nguyễn Thị Phú (2018), GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MIỀN NAM 1954-1975 – NXB Tổng hợp TP. HCM.
  3. Nguyễn Thanh Liêm (nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục VNCH), Nền giáo dục miền Nam 1954-1975, http://hocthenao.vn
  4. Dương Thiệu Tống (1965), “Dự án đại cương về trường Trung học Kiểu Mẫu”, http://kieumauthuduc.org
  5. Đại học Sư phạm Sài Gòn (1966), Kỷ yếu Trường Kiểu Mẫu Thủ Đức niên học đầu tiên 1965 – 1966, Sài Gòn, http://kieumauthuduc.org
  6. Phạm Văn Quảng (2006), Việc chuẩn bị chương trình trung học tổng hợp, http://kieumauthuduc.org
  7. Nguyễn Thiện Tống (2008), Tưởng nhớ Thầy Dương Thiệu Tống, Thanh niên online, 2008
  8. Website http://hocthenao.vn (2013), Các trường, viện ngoài công lập ở miền nam trước 1975 – Tổng hợp.
  9. Wikipedia, Trường Cao đẳng cộng đồng.
  10. Bùi Tho (2008), Nền giáo dục Nông Lâm Súc, website: http://nlsbaoloc.info

Leave a Reply