Viết về trường Trung Học Kỹ Thuật Huế

1) CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA TRƯỜNG BÁ CÔNG:

(Trích từ trang web của Trường Cao đẳng Công nghiệp Huế)

” Trường Cao đẳng Công nghiệp Huế tiền thân là Trường Bá Công, thành lập ngày 12 tháng 9 năm 1899 theo Chỉ dụ của Vua Thành Thái.

Năm 1921 chuyển giao cho Chính quyền Bảo hộ Pháp quản lý và đổi thành Ecole Pratique D’Industry de Hué tức Trường Kỹ nghệ Thực hành Huế, và sau đó, ở mỗi giai đoạn lịch sử Trường đã có những tên gọi khác nhau:

– 1942: Trường Kỹ thuật Công nghiệp Huế

– 1952: Học xưởng Kỹ nghệ Huế

– 1954: Trường Chuyên nghiệp Kỹ nghệ Huế

– 1956: Trường Trung học Kỹ thuật Huế

– 1976: Trường Kỹ thuật Huế

– 1977: Trường Công nhân Kỹ thuật Cơ điện Huế

Tháng 8 năm 1993, Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế bàn giao Trường cho Bộ Công nghiệp (tức Bộ Công nghiệp nặng cũ) quản lý và đổi thành Trường Kỹ nghệ Thực hành Huế ( tên cũ của của trường từ thời 1921);

– Năm 1998 trường được nâng cấp đào tạo và đổi tên trường thành Trường Trung học Công nghiệp Huế;

– Năm 2005, trường tiếp tục được nâng cấp đào tạo và đổi thành Trường      Cao đẳng Công nghiệp Huế, tên giao dịch: Hue Industrial College (HICOL).
2) MỤC ĐÍCH ĐÀO TẠO VÀ CHƯƠNG TRÌNH GIÃNG DẠY TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC KỸ THUẬT: (Từ nục 2 đến hết bài đăng lại bài viết của Nguyễn Phấn Sydney 05/07/2009, lấy từ Website :http://lientruongkythuat.org.au/index.php/truongxua/bai-viet/2-nho-ve-truong-ky-thuat, có biên tập lại đôi chổ theo hiện trạng của Trường TH Kỹ Thuật Huế trước 1975)
Trước ngày 30/04/1975, song song với hệ thống giáo dục phổ thông, Bộ Quốc Gia Giáo Dục và Nha Kỹ Thuật Học Vụ đã cho xây dựng và thành lập rất nhiều trường Kỹ Thuật ở hầu hết các thành phố và tỉnh lỵ về phía nam vĩ tuyến 17 nhằm mục đích huấn luyện và đào tạo các chuyên viên có tay nghề chuyên môn cao, hầu đáp ứng nhu cầu của các nhà máy Công Kỹ Nghệ cũng như Quốc Phòng đang phát triển của Miền Nam lúc bấy giờ.

Lúc mới thành lập chương trình giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Pháp. Kể từ niên khóa 1955-1956 tiếng Việt được dần dần dùng trong việc giảng dạy từ cấp lớp Đệ Thất,(Lớp 6 sau này) sau đó tiếng Việt được dùng hoàn toàn cho việc giảng dạy cho tất cả các môn học ở mỗi cấp lớp. Chương trình giảng dạy gồm các môn Phổ Thông và Thực Hành, tổng quát có thể trình bày vắn tắt như sau:

Ở trường TH Kỹ Thuật Huế giảng dạy các môn các môn Kỹ Thuật như Nguội, Tiện Phay, Bào (Ban Máy Dụng Cụ), Máy Nổ 2 thì (2 periods internalnal combustion engine ‘Hút Ép, Nổ Giản’) Máy Nổ 4 thì (4 periods internal combustion engine ‘Hút, Ép, Nổ, Giản’), Máy dầu (Diesel), Máy dầu cặn Mazut (Ban Động Cơ), Điện Mô-tơ (Moteur), Điện Nhà (Điện dân dụng), Điện Tử (Elevtronícs, Transistors)(gọi chung là Ban Điện và Điện Tử), Cưa, Xẽ, Bào Gỗ, Các loại mộng và cách ráp mộng, đóng bàn, ghế, giường tủ (Ban Kỹ Nghệ Gỗ), Gò, Rèn, Hàn (Ban Kỹ Nghệ Sắt). Môn Kỹ Nghệ Họa hay còn gọi là môn Vẽ Kỹ Thuật (Design Industial) là môn Kỹ Thuật Học của các nghề nêu trên.

Ngoài phần học về lý thuyết và thực hành của các ngành nghề chuyên môn đang theo học tất cả học sinh Kỹ Thuật còn phải học hầu hết các môn Phổ Thông như Toán, Vật Lý, Hóa Học, Việt Văn,Triết Học, Lịch Sữ, Địa Lý, Công Dân Giáo Dục, Anh Văn, Pháp Văn, Mỹ Thuật Họa, Vệ Sinh An Toàn, Thể Dục Thể Thao. Các môn Phổ Thông thường có giờ học ít hơn, tuy nhiên so với chương trình Tú Tài Kỹ Thuật (Ban Toán) thì các môn Toán, Vật Lý, Hóa Học rất nặng có khi còn nặng hơn Ban “B” của chương trình của các Trường Trung Học Phổ Thông. Về phần Thực Hành, học sinh được thực tập ở các phân xưởng được chia thành như sau:

Ban Máy Dụng Cụ học về Nguội, Tiện Phay Bào …
Ban Cơ Khí hay Đông Cơ học về Máy Nổ 2 Thì, 4 Thì, Máy dầu (Diesel, dầu cặn Mazut)…
Ban Điện học về Điện nhà, Điện Motor, Điện Tử (Electronics, Transistors)…
Ban Kỹ Nghệ Gổ học về Cưa, Xẽ, Bào Gổ, Các loại Mộng, Đóng Tủ, Bàn Ghế…
Ban Kỹ Nghệ Sắt học về Rèn, Gò, Hàn…

Số giờ học hàng tuần cho tất cả các môn, kể cả việc thực tập ở các xưởng thường từ 40 đến 44 giờ, tùy theo học sinh đang theo học Ban Kỹ Thuật Chuyên Nghiệp hay Ban Kỹ Thuật Toán. Ban KT Chuyên Nghiệp sẽ học năng về chuyên môn và chi tiết hơn và các môn Phổ Thông có phần nhẹ hơn, ngược lại những học sinh theo học Ban Kỹ Thuật Toán học nghề nhẹ hơn và phần các môn phổ thông sẽ học nhiều hơn.

3) ĐIỀU KIỆN THEO HỌC, THỜI GIAN HỌC VÀ VĂN BẰNG TỐT NGHIỆP:

Muốn vào học các Trường Trung Học Kỹ Thuật học sinh phải có Văn Bằng Tiểu Học (hay văn bằng Certificate của Pháp) để đuợc thi tuyển vào các lớp Đệ Thất (lớp 6 sau này). Nhưng kể từ niên học 1964-1965 các Trường Trung Học Kỹ Thuật chỉ tuyển sinh vào cấp lớp Đệ Ngũ (lớp 8 sau này). Học sinh muốn dự thi học sinh phải có ít nhất là chứng chỉ lớp Đệ Lục (lớp 7 sau này) hoặc có Văn Bằng Tiểu Học tính đến ngày nộp đơn thi ít nhất là hai năm. Về tuổi tác có thể lớn hơn học sinh trường phổ thông 1 năm.

Những học sinh Kỹ Thuật Toán sau 2 năm sẽ thi lấy Văn Bằng Trung Học Kỹ Thuật, học sinh Kỹ Thuật Chuyên Nghiệp sau 3 năm theo học sẽ thi lấy Văn Bằng Trung Học Kỹ Thuật Chuyên Nghiệp, ban Kỹ Thuật Chuyên Nghiệp sẽ thi lấy Văn Bằng Trung Học vào năm lớp Đệ Tam (lớp 10 sau này). Những học sinh có Văn Bằng Trung Học Kỹ Thuật Chuyên Nghiệp phải thi tuyển để theo học tiếp ở Trường Bách Khoa Trung Cấp Phú Thọ. Sau khi tốt nghiệp Văn Bằng Bách Khoa Trung Cấp được tính là Văn Bằng Tương Đương Tú Tài phần II Ban “B” hoặc Kỹ Thuật.

Riêng ở trường TH Kỹ Thuật Huế vào năm học 1971-1972, Bộ Quốc Gia Giáo Dục và Nha Kỹ Thuật Học Vụ không tổ chức cho học sinh lớp 10 thi vào Trường Bách Khoa Trung Cấp Phú Thọ nữa, dó đó toàn bộ học sinh ban chuyên nghiệp năm học 1972-1973 (học lớp 10) tại trường TH Kỹ Thuật Huế, được tiếp tục học tại trường ở  lớp 11 và 12 với tên gọi 11 đặc biệt, 12 đăc biệt, với chương trình giảng dạy nặng thêm về môn toán-12 tiết Toán/tuần, nhưng vẫn không dạy môn Vạn vật. Do đó những học sinh này sau này thi muốn vào Y khoa thì phải gấp rút tự học môn vạn vật.

4) CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC KỸ THUẬT CÔNG LẬP VÀ TƯ THỤC ĐÃ CÓ Ở MIỀN NAM TRƯỚC NĂM 1975:

Như đã nói ở trên, hầu hết các thành phố lớn và tỉnh lỵ miên Nam Việt Nam trước đây đều có xây dừng và thành lập các trường Trung Học Kỹ Thuật, từ phía Nam vĩ tuyến 17 cho đến mũi Cà Mau đã có các Trường Kỹ Thuật như sau:

Ở Miền Trung có các Trường Trung Học Kỹ Thuật Huế, Đà Nẵng, Qui Nhơn, Nha Trang. Tất cả các trường này là Trung Học Kỹ Thuật Đệ Nhị Cấp. Thị Xã Ban Mê Thuột thuộc cao nguyên Trung Phần có Trường Trung Học Kỹ Thuật Y UT. Các tỉnh miên Đông và Nam có các Trưòng Trung Học khác như: Trung Học Kỹ Thuật Biên Hòa, Phước Tuy, Bình Dương, Định Tường (Mỹ Tho), Gò Công, Kiến Hòa (Bến Tre), Vĩnh Long, Kiến Phong(Cao Lảnh), Cần Thơ, Long Xuyên (An giang), Rạch Giá (Kiên Giang), trong số những trường Kỹ Thuật này có 2 Trường Kỹ Thuật Vĩnh Long, và Long Xuyên là 2 trường Đệ Nhị Cấp và là hai trường Kỹ thuật lớn nhất ở Miền Tây Nam Phần.

Trước năm 1975, Đô Thành Saigon có Trường Kỹ Thuật Cao Thắng, Nguyễn Trường Tộ, Phan Đình Phùng(Trung Tâm Tiểu Công Nghệ), Việt Đức, Kỹ Thuật Gia Định và Trung Học Kỹ Thuật Quốc Gia Nghĩa Tử trực thuộc Bộ Cựu Chiến Binh. Trong số các trường này Trương Trung Học kỹ Thuật Cao Thắng là Trương Kỹ Thuật Đệ Nhị Cấp nổi tiếng nhất, Trường Trung học Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ mới chuyển thành Trường Trung Học Kỹ Thuât Đệ Nhị Cấp kể từ niên khóa 1972 1973.

Ngoài các Trường Kỹ Thuật Công Lập kể trên, ở miền Nam còn có một số trường Kỹ Thuật Tư Thục, nhưng hầu hết đêu được mở ở Thủ Đô Saigon do có nhu cầu cao, có thể tóm tắt như sau: Trung Học Kỹ Thuật Á Châu (Ở Đương Trần Hưng Đạo, Quân 1 Saigon, về sau chuyển về Đường Trương Minh Giảng Quân 3 Saigon và đổi tên thành Trường Trung Học Kỹ Thuật Cao Đạt; Trường Trung học Kỹ Thuật Don Bosco ở Quận Gò Vấp thuộc Giáo Hội Thiên Chúa Giáo. Một Trường Kỹ Thuật và Nông Lâm Súc Tư Thục ở Ngã Tư Bảy Hiền, Thị Xã Đà Lạt cũng có Trương Kỹ Thuật Tư Thục Don Bosco, hằng năm Nha Kỹ Thuật và Học Vụ có tổ chức Hội Đồng thi Trung Học Kỹ Thuật riêng cho những học sinh trường này.

Trên đây chỉ là một số ghi nhận về mục đích đào tạo, chương trình giảng dạy, điều kiện thi tuyển và Văn Bằng tốt nghiệp của hầu hết cac Trường Trung Học Kỹ Thuật ở Miền Nam Việt Nam. Riêng chương trình học và giãng dạy các ngành nghề chuyên môn ở một số trường đặc biệt như Trường Trung Học Kỹ Thuật Gia Định, Biên Hòa, Bình Dương, Phan Đình Phùng … còn có nhiều phần khác biệt mà chỉ có những vị Giáo Sư hoặc Ban Giám Hiệu của các trường đó mới có thể trình bày đầy đủ được.

Nguồn thông tin:

1>http://www.hueic.edu.vn/vivn/ph%C3%B2ngtruy%E1%BB%81nth%E1%BB%91ng.aspx

2>http://lientruongkythuat.org.au/index.php/truongxua/bai-viet/2-nho-ve-truong-ky-thuat)

Bùi Hữu Lập trích dẫn từ nguồn thông tin trên và có biên tập lại đôi chổ phù hợp hiện trạng của Trường TH Kỹ Thuật Huế trước 1975, kính mong Quý Thầy, cô và các bạn đồng môn góp ý, xây dựng nguồn tư liệu cho bài viết về trường cũ TH Kỹ Thuật Huế ngày một phong phú hơn, bài viết xin gửi về Email: duocttien@gmail.com (địa chỉ của anh Võ Văn Kinh, phó ban liên lạc hội Ái Hữu Kỹ Thuật – Huế)

Kính cám ơn.

 

Leave a Reply